Phương Pháp Môn Kriyâ Yoga
Pháp môn Kriyâ Yoga, thường được đề cập đến trong quyển sách này, đã từng được
phổ biến rộng rãi ở xứ Ấn Độ nhờ bởi đức Lahiri Mahasaya, vị tôn sư của thầy
tôi. Danh từ Kriyâ do Phạm Ngữ Kri, có nghĩa là hành động, và cùng một gốc rễ
với danh từ Karma, nguyên lý tự nhiên về nhân quả. Kriyâ Yoga có nghĩa là "Hợp
nhất với đấng Vô Cùng do sự trung gian của một nghi thức hay hành động". Người
Yogi thực hành đúng đắn pháp môn này sẽ lần lần tự giải thoát khỏi sự trói buộc
của nghiệp quả.
Theo một nguyên tắc cổ xưa có tự nghìn đời về trước, tôi không thể tiết lộ trọn
cả pháp môn Kriyâ Yoga trong một quyển sách dành cho đại chúng. Chỉ có người đạo
sĩ Kriyâ Yogi mới có thẩm quyền truyền dạy pháp môn này, mà tôi sẽ trình bày
dưới những nét đại cương.
Pháp môn Kriyâ Yoga là một phương pháp giản dị về cả hai mặt tâm linh và thể
chất, giúp cho con người bài tiết chất thán khí của cơ thể ra ngoài và tiếp thêm
dưỡng khí vào máu. Những nguyên tử dưỡng khí phụ trội sẽ chuyển thành một luồng
sinh khí phục hồi sinh lực cho bộ phận kinh tủy não. (Bác sĩ George W. Crile,
nhà Bác học Mỹ nổi tiếng, năm 1940 có trình bày trong một phiên họp của Hội Phát
Triển Khoa Học Mỹ, những cuộc thí nghiệm đã giúp cho ông chứng minh rằng tất cả
những tế bào trong cơ thể con người đều chứa âm điện, trừ ra những tế bào của óc
và thần kinh hệ chứa dương điện bởi vì những tế bào này tiêu thụ chất dưỡng khí
mau lẹ hơn.)
Người Yogi có thể trì hoãn, hoặc ngăn ngừa sự già cỗi của các tế bào bằng cách
ngăn chặn sự tích tụ của máu đen, những nhà đạo sĩ tiến hóa cao có thể thay đổi
các tế bào của họ thành chất tinh lực thuần túy. Elie, Jesus, Kabir và các nhà
tiên tri khác đều biết rõ pháp môn Kriyâ hay một pháp môn tương tự có thể giúp
các ngài biến thể hay tàng hình tùy theo ý muốn.
Kriya Yoga là một pháp môn rất cổ, mà Lahiri Mahasaya đã thụ giáo của tôn sư
Babaji, vị này đã phát hiện và chấn chỉnh lại pháp môn ấy sau nhiều thế kỷ bị
đắm chìm trong quên lãng. Babaji đã nói với Lahiri Mahaysaya.
- Pháp môn Kriya Yoga mà Thầy dùng con làm trung gian để truyền bá cho đời vào
giữa thế kỷ mười chín này, chính là cái pháp môn mà cách đây nhiều ngàn năm, đức
Krishna đã truyền dạy cho Arjuna. Đạo sư Pantanjali, đấng Christ, thánh Jean,
thánh Paul và những vị thánh tông đồ khác cũng đã từng biết rõ pháp môn ấy.
Krishna, đấng tiên tri lớn nhất Ấn Độ, đã đề cập đến pháp môn Kriyâ Yoga trong
một câu thánh kinh Bhhagavad Gita: "Những người khác vận chuyển luồng sinh khí
bằng cách điều chỉnh hơi thở ra hít vào, và tập luyện phép khí công Pranâyama".
Câu ấy có nghĩa là: "Người Yogi ngăn chận sự già nua của thể xác bằng cách tiếp
thêm luồn sinh khí, và ngăn sự trưởng thành bằng phương tiện bài tiết. Bằng cách
hóa giải sự già nua và trưởng thành của thể xác, và điều hòa nhịp độ của quả
tim, người Yogi nắm vững cái bí quyết của vấn đề sanh tử".
Krishna cũng nói rằng trong một tiền kiếp, ngài đã truyền dạy pháp môn Yoga bất
tử này cho Vivasvat, bật giác ngộ của thời đại cổ, việc này truyền lại cho đức
Manu, nhà sáng lập nên luật pháp Ấn Độ. Đức Manu truyền lại cho Ixvâku, nhà sáng
lập nên triều đại vương tướng của Ấn Độ. Được truyền khẩu từ thể kỷ này qua thế
kỷ khác, pháp môn Yoga này được các đấng Chân Sư gìn giữ trải qua thời gian cho
đến kỷ nguyên duy vật. Nhưng vì các vị tăng lữ thời xưa bao trùm nó trong một
bức màn bí mật và cũng do bởi sự thản nhiên của người đời, nên rốt cuộc khoa
pháp môn thiêng liêng này đã lần lần biến mất.
Đạo sư Pâtanjali viết như sau: "Pháp môn Kriyâ Yoga gồm có: Kỷ luật của xác
thân, kiểm soát tư tưởng, và tham thiền về thánh ngữ AUM". Pâtanjali cho rằng
Thượng Đế, tức là sự rung động trong vũ trụ của tháng ngữ AUM mà người hành giả
nghe được trong cơn tham thiền. AUM tức là danh từ sáng tạo, là tiếng động cơ
của vũ trụ. Người hành giả tu luyện Yoga sẽ có lúc nghe được âm thanh văng vẳng
của thánh ngữ AUM vang lên từ chỗ sâu thẳm của nội tâm mình. Trong khi y nhận
được một sự khích lệ tâm linh như thế, người hành giả biết rằng y đã tiếp xúc
với cõi thiêng liêng.
Trong trạng thái tiếp xúc sơ khởi với Thiêng Liêng như vừa kể trên (Savikalpa
Samâdkhi), tâm thức của người hành giả đắm chìm trong tâm thức của vũ trụ,
nguyền sinh lực thoát ra khỏi xác thân y, làm cho xác thân y có vẻ như chết,
cứng đơ, bất động. Người Yogi hoàn toàn ý thức được sự sống chậm lại của thể xác
y. Khi y đạt tới trạng thái cao siêu hơn (Nirvikalpa samâdlhi), tâm thức của y
hòa hợp với Thiêng Liêng trong khi y vẫn tỉnh táo và hoàn toàn ý thức được mọi
việc xảy ra chung quanh mình.
Sri Yukteswar giảng giải cho các đệ tử như sau:
- Pháp môn Kriyâ Yôga là một phương pháp hối thúc sự tiến hóa của con người. Từ
thời cổ xưa, các nhà đạo sĩ Yogi đã khám phá ra điều bí mật này, là tâm thức vũ
trụ được nối liền chặt chẽ với sự kiểm soát hơi thở, đó là sự góp phần bất hủ và
độc đáo của Ấn Độ vào cái kho tàng kiến thức của nhân loại. Nguồn sinh lực của
con người, lúc bình thường bị hao tán do bởi sự náo động hằng ngày, phải được
gom lại để dùng trong những hoạt động tâm linh cao siêu hơn bằng cách thực hiện
hành pháp Yoga làm lắng dịu nhịp độ của hơi thở.
Người Yogi dùng tư tưởng dẫn luồng sinh lực đi theo một đường vòng xuyên qua sáu
bí huyệt của tủy xương sống (từ bí huyệt trên đỉnh đầu xuống các bí huyệt ở
cuống họng, ở tim, ở rún, ở lá lách và xương mông), rồi đi ngược trở lên, để
khép một vòng tròn tương đương với mười hai cung Hoàng Đạo, tượng trưng vũ trụ
trong con người (Tiểu thiên địa). Một lần công phu chừng nửa phút đồng hồ vòng
quanh xương sống theo pháp môn kriyâ, giúp cho con người thực hiện một sự tiến
bộ bằng một năm tiến hóa tâm linh thông thường.
Một lần phép công phu Kriyâ thực hiện trong vòng một ngày đem đến cho người Yogi
một sự tiến hóa tâm linh tương đương với một ngàn năm tiến hóa tự nhiên, và công
phụ của một năm tu luyện sẽ đưa kết quả bằng 365.000 năm. Như thế, pháp môn
Kriyâ Yoga giúp cho người hành giả thực hiện trong ba năm tu luyện công phu, một
sự tiến bộ vượt bực mà theo đà tiến hóa tự nhiên, nó phải cần đến 10.000 thế kỷ.
Tuy nhiên, muốn theo con đường tắt của pháp môn Kriyâ Yoga, chỉ có những người
Yogi đã được huấn luyện thuần thục dưới sự chỉ dẫn của các vị chân sư, nhờ đó
học chuẩn bị thể xác lẫn tinh thần đến mức tuyệt đỉnh, khả dĩ tiếp nhận cái
quyền năng pháp triển bằng sự công phu tu luyện thường xuyên.
Người sơ cơ mới tập luyện pháp môn Kriyâ chỉ nên tu luyện từ 14 đến hai mươi 28
vào mỗi thời công phu, mỗi ngày hai thời. Thường thì các nhà đạo sĩ Yogi chỉ
hoàn tất công phu tu luyện của học trong sáu năm, mười hai năm, hai mươi bốn
năm, hay bốn mươi tám năm. Người Yogi chết trước khi đạt được mục đích tối cao
sẽ đem theo một căn quả tốt do nơi công phu tu luyện trong quá khứ, và trong
kiếp sau, y sẽ có điều kiện tốt để tiếp tục tu luyện cho đến lúc thành công.
Thể xác của một người thường cũng ví như một ngọn đèn 50 Watt, không thể chịu
nổi một điện thế một triệu volt gây ra bởi sự thực hành quá mức pháp mô Kriyâ
Yoga. Sự gia tăng một cách tuần tự và hợp lý số lượng công phu Kriyâ sẽ từ từ
thay đổi xác thân đến mức có thể chịu đựng nổi luồng thần lực mãnh mẽ của vũ
trụ, tức là sự biểu lộ đầu tiên của Tinh Thần.
Sự bồi dưỡng sinh lực trong giấc ngủ là do bởi sự kiện rằng con người tạm thời
mất đi cái ý thức xác thân và hơi thở của mình. Trong khi ngủ, người ta vô tình
trở nên một người Yogi; mỗi đêm, vô tình và không hề hay biết y thực hiện pháp
môn Yoga là thoát ra ngoài mọi ý thứ về xác thân, và để cho nguyồn sinh lực thấm
nhuần vào bộ óc và sáu trung tâm bí yếu phụ thuộc trong tủy xương sống. Như vậy,
trong giấc ngủ, người ta đắm chìm một các vô ý thức trong cái kho dự trữ tinh
lực của vụ trụ, nguồn gốc của mọi sự sinh tồn.
Trái hẳn với người ngủ, người Yogi áp dụng có ý thúc một phương pháp giản dị và
tự nhiên cùng một loại. Người Yogi dùng pháp môn Kriyâ Yoga để đem Ánh Sáng bất
diệt thấm nhuần và nuôi dưỡng các tế bào của thể xác, và duy trì chúng trong một
trạng thái thấm nhuần từ điển một các thường xuyên. Y khiến cho sự hô hấp trở
nên không còn cần thiết, nhưng không vì thế mà đưa giấc ngủ hay sự hôn mê bất
tỉnh.
Nhờ luyện pháp môn Kriyâ, nguồn sinh lực của con người không bị hao tán, hay
lãng phí bởi sự loạn động của giác quan, mà được gom về những trung tâm bí yếu
trên tủy xương sống để được thấm nhuần một thứ thần lực tinh anh. Chính bởi đó
mà thể xác và những tế bào trong óc của người Yogi được truyền vào một sức mạnh
tâm linh nó tăng cường sự sống. Khi đó, người Yogi không còn phải tuân theo chặt
chẽ những định luật thiên nhiên, như là ăn uống thanh đạm, sống gần thiên nhiên,
với ánh nắng và khí trời, nuôi tư tưởng tốt lành... là những phương tiện quanh
co nó chỉ có thể đưa y đến mục đích trong một thời kỳ lâu dài là mười ngàn thế
kỷ. Một người thường, có sức khỏe tốt, phải mất mười hai năm tu luyện mới gây
nên một sự thay đổi khả quan trong cơ cấu của bộ óc, và cần đến một triệu năm để
tinh luyện bộ óc cho đến mức có thể khai triển tâm thức vũ trụ (Consicience
cosmique)
Cuộc đời của người đạo sĩ Kriyâ Yoga không còn tùy thuộc vào những nghiệp quả
của quá khứ, mà chỉ tùy thuộc nơi những mệnh lệnh của linh hồn. Do đó, người
hành động tốt hay xấu của cuộc đời hằng ngày, chẳng khác nào như sự tiến triển
thô sơ của con ốc, không còn phù hạp với đôi cánh bay xa của con chim phụng
hoàng.
Một phương pháp sinh hoạt tâm linh rất cao siêu giúp cho người Yogi thoát ra
khỏi các ngục tù của bản ngã để thở bầu không khí tự do của trạng thái siêu
thức. Cuộc đời thế gian, trái lại, đưa con người vào một ngõ bí không có lối
thoát. Dẫu cho con người noi theo con đường tiến hóa, y cũng phải chịu lệ thuộc
những định luật thiên nhiên, dù cho y không vi phạm một định luật nào về vật
chất hay tinh thần, y cũng không khỏi mắc kẹt trong vòng luân hồi sinh tử trải
qua một thời gian mười ngàn thế kỷ trước khi đạt tới sự giải thoát cuối cùng.
Để thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó, pháp môn Kriyâ Yoga là cái bí quyết để
trả lời cho những người nào bất mãn với cái chu kỳ một triệu năm. Cái chu kỳ đó
còn kéo dài hơn nữa đối với những người, tuy có thức tỉnh đổi chút để nghĩ đến
sự sống tâm linh, nhưng hãy còn theo đuổi những thú vui phàm tục, và làm tổn
thương đến tính chất thiêng liêng của họ bằng hành động và tư tưởng. Đối với họ,
thì hai triệu năm cũng còn chưa đủ để tự giải thoát!
Con người tự lầm lộn mình với cái phàm ngũ, y tưởng rằng chính y suy tư, cảm
xúc, mong muốn, ước vọng, hay hành động việc nọ việc kia, chứ không biết rằng
trong cuộc đời hằng ngày, y chỉ là một kẻ bù nhìn bị cai quản bởi những nghiệp
quả của quá khứ, và bởi hoàn cảnh chung quanh. Tuy nhiên, những khả năng trí
thực, những khuynh hướng, tập quán, thói quen.... đều tùy thuộc một các chặt chẽ
nơi những nguyên nhân trong quá khứ mà nguồn gốc có thể truy ra hoặc trong kiếp
này, hoặc ở một tiền kiếp. Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ đó, chỉ có linh hồn,
một thực thể bất biến mà pháp môn Kriyâ Yoga có sứ mạng giải thoát bằng cách xé
tan bức màn vô minh, nguồn gốc của mọi sự chướng ngại và trái buộc Linh hồn vào
vòng luân hồi sinh tử.
Đức Giáo Chủ Shankara viết trong quyển sách bất hủ "Những thế kỷ" (Centuries)
của ngài như sau:
"Những nghi thức lễ bái bề ngoài không thể dẹp tan sự vô minh, hai điều đó có
khi lại còn đi đôi với nhau. Chỉ có sự hiểu biết mới có thể dẹp tan được sự vô
minh. Sự hiểu biết hay kiến thức, chỉ có thể đạt tới được bằng sự tìm tòi, tọc
mạch về lý trí. Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Vũ trụ từ đâu mà có? Ai sáng tạo ra
nó? Nguồn gốc nó do đâu mà ra?... Đó là sự tọc mạch tìm tòi mà tôi muốn nói
đến".
Trí óc con người đành chịu bất lực không thể giải đáp những câu hỏi đó. Bởi đó,
các đấng Chân Sư thời cổ mới đem đến cho chúng ta pháp môn Yoga để làm cho ta
thỏa mãn sự khát khao hiểu biết.