NHÌN THẤY ĐỨC CHÍ TÔN NGAY TRONG TẤM HÌNH HÀI NÀY
(Phần 3)
Miền Sahansdal Danwal là miền cuối cùng, tức là cao nhất của các tu sĩ du già.
Qua khỏi đó các luồng sinh khí không thể vận hành được. Các luồng sinh khí có
thể so sánh với một chiếc xe đạp sau khi đã chạy trên con đường tráng nhựa. Đến
cuối đường tráng nhựa thì không thể đi xa hơn được nữa, nhất là khi đoạn đường
tiếp theo đầy những vết bánh xe trước và đầy những ổ gà. Các luồng sinh khí
không thể đi xa hơn Chid Akash - phần dưới của miền thứ nhất, tức là Sahansdal
Kanwal - Các tu sĩ du già không hề biết đến nhiều cảnh giới xinh đẹp và thuần
túy tâm linh ở cao hơn. Thế nhưng ngay cảnh giới thứ nhất này cũng rất là bao
la. Và để mô tả nó, cần phải viết nhiều cuốn sách.
Còn những phía bên kia phải đi qua Bunknal thường gọi là con "những hầm khúc
khủyu" rất là hẹp và đã được nói đến trước đây chỉ rộng bằng một phần mười sợi
tóc - Chúng ta phải đi thẳng suốt, sau đó đi xuống, lại đi lên, rồi lại đi
thẳng. Đoạn những Bunknal này nằm giữa Sahansdal Danwal và Trikuti cảnh giới thứ
hai. Đa số những tu sĩ du già thuở xưa và nhà tiên tri không thể đi qua đoạn
đường này, họ đã không thể nhìn thấy Tự Tánh của mình, bởi vì cái Tự Tánh này
chỉ hiện ra ở Par Brahm.
Chúng ta phải hiểu rằng toàn bộ quang cảnh đầy những linh hồn. Và chẳng có linh
hồn nào bị giới hạn trong biên giới vật chất. Ví dụ nếu bạn đặt một người nào đó
vào một chiếc hòm kín, khi người đó chết đi, linh hồn không ở lại trong hòm.
Bên trong cái xác vật chất còn có một cái xác vi tế hơn, đó là cái vía và bên
trong nữa còn có cái trí. Khi tất cả những cái vỏ bọc bên ngoài đó (cái xác, cái
vía, cái trí) được tách rời khỏi linh hồn thì linh hồn sẽ sáng lên bằng ánh sáng
của chính mình với độ sáng bằng 12 mặt trời. Linh hồn vốn có cùng bản chất với
Thượng Đế và có cùng những phẩm chất như vậy. Thế nhưng khi nó bị bao che bởi
những lớp vỏ kia nó hoàn toàn không hay biết chi về tiềm năng của mình.
Linh hồn vốn là Chetan (toàn thức, trí khôn hoặc sinh lực có ý thức). Thế nhưng
vì kết hợp với sự vật vật chất, nó trở thành vật chất. Hoặc nói một cách chính
xác hơn, nó bị che phủ bởi những tư tưởng về vật chất, bởi ham muốn và những thứ
tương tự như vậy. Khi chúng ta lên cao hơn, thức sẽ thăng tiến về chất lượng và
quyền năng tâm linh cho đến khi chúng ta đạt trạng thái Sat Chit Anand, hoặc
thức phúc lạc chân thật.
Linh hồn nơi mọi người đều giống như nhau. Không ai trong chúng ta lại có thể
khác Ngài. Thế nhưng hại thay chúng ta chẳng biết, chúng ta chẳng nhận ra.
"Một ông chúa sơn lâm ở trong rừng,
Một hôm bà vợ sinh một chú sử con.
Tình cờ chú con về tay một người chăn cừu.
Người này nuôi nó lẫn với đàn cừu.
Thế là chú con quên cả dòng giống.
Tập tục của tổ tiên, cùng với thành tích.
Cũng ăn như cừu, chú ta gặm cỏ.
Linh hồn, hỡi ơi, cũng cùng chung cảnh ngộ!
Nó lớn lên, gắn chặt trong thân xác,
Quên hết bản chất của mình".
Một thời gian sau có một sư tử khác đi ngang, thấy vậy và tự hỏi sao một con vật
đồng loại với mình lại sống lẫn trong bầy cừu vốn là thực phẩm của mình. Nó liền
nói với sư tử con: "Nhà ngươi đã thành cừu bởi vì sống giữa đàn cừu. Hãy đi lại
đây với ta, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy bản chất chân thật của ngươi". Nói rồi nó
liền dẫn sư tử con đến một dòng sông gần bên và qua cái bóng dưới mặt nước, chỉ
cho nó thấy là hai con giống nhau.
"Ngươi là một con sư tử. Ngươi giống như ta, bây giờ ta rống lên và ngươi cũng
sẽ làm như vậy".
Khi cả hai rống lên, cả người chăn cừu lẫn đàn cừu hoảng sợ chạy mất vía.
Đó là một dụ ngôn. Tâm trí chúng ta là người chăn cừu và các giác quan của chúng
ta là đàn cừu. Tâm chúng ta là sư tử con, nó đến từ cảnh giới tâm linh trên cao.
Tâm trí đã trộn lẫn tâm với các giác quan. Chúng ta nay ở dưới quyền điều khiển
của tâm trí và ăn cỏ. Nói thế có nghĩa là chúng ta tham luyến của cải thế gian.
Đấng Đạo Sư huyền môn từ cảnh giới tâm linh trên cao kia đến là con sư tử. Nó
rống lên và dạy cho sư tử con biết rống lên. Chính bản thân Ngài đã hòa nhập vào
Tiếng Nhạc Trời và Ngài đã phát ra tiếng vang của tiếng nhạc đó trong chúng ta.
Từ lúc tâm tư nhận ra mình và quyền năng thiêng liêng vốn có của mình nó không
còn sợ cái tâm trí và giác quan nữa. Từ đây nó kiểm soát cả tâm trí và các giác
quan.
Ánh sáng của tâm luôn ở trong chúng ta, nhưng chúng ta không thấy. Nó cũng giống
như một cây đèn bọc trong nhiều lớp vải che và không thể truyền đi ánh sáng. Thế
nhưng nếu những lớp vải che kia được lấy đi từng lớp một thì ánh sáng sẽ tỏ dần.
Bản Lai Diện Mục của tâm chi hiện ra ở Sach Khan, cảnh giới thứ năm. Ngay ở
Daswan Dwar, cảnh giới thứ ba, ở miền Par Brahm, vẫn còn có một lớp vải thưa bao
che của Vô Minh.
Khi tâm vượt qua khỏi Sahansdal Kanwal, những quyền năng ngăn trở ở đó đã trở
thành rất yếu. Chúng ta phải hiểu rõ rằng chúa tể của tam giới là Kal, một quyền
năng ngăn trở. Đấng Chí Tôn chân thực là Diệu Âm. Kal không thể giết một linh
hồn hay hủy diệt nó được. Nó giam cầm các linh hồn trong ba thế giới của nó.
Nó trói buộc các linh hồn bằng những lạc thú trần gian. Nếu khi nào có linh hồn
bắt đầu hướng lên một miền cao hơn thì Kal ngăn lại.
"Bậc Đạo Sư không có tấm màn che,
Tấm màn che ở trên mắt ta.
Do bị ô nhiểm vì nghiệp quả
Mắt ta không thấy.
Và điều cần thiết là tháo bỏ bức màn đó".
(Khwaja Haliz)
Tại nhiều nơi trên đường đi chúng ta thường gặp những con người ở thể vía rất
xinh đẹp cả nam lẫn nữ. Những người đẹp như thế chưa từng được thấy tại thế
gian. Họ bày ra lắm trò quyến rũ cố gắng cản trở linh hồn đi lên. Thế nhưng vị
Đạo Sư đi kèm với linh hồn người đệ tử chẳng để linh hồn thấy họ. Trong thực tế
những quyền năng ngăn trở đó không thể đến gần bên cái Danh Hiệu được Chân Sư
ban cho. Cũng giống như cận thần của một đấng quân vương không hề bị rào cản nào
ngăn trở, một linh hồn trì niệm Năm Hồng Danh thì không thể bị cản trở bất kỳ ở
đâu cả.
"Với thanh gươm của Đức Đạo Sư
Và chiếc áo giáp là lòng thờ phụng Đức Chí Tôn,
Linh hồn có thể ưu thắng đối với Kal dễ sợ".
(Đạo Sư Amardas)
"Chẳng có tử vong, cũng chẳng có cạm bẩy của Vô Minh
Bởi vì người ấy bơi lội (trong biển cả các hiện tượng)
Với lòng tôn thờ Đức Chân Sư."
(Đạo Sư Nanak)
Trong nội giới có nhiều cảnh giới rộng lớn. Sau khi vượt qua Sahasdal Danwal,
linh hồn đến Brahm hoặc Trikuti, từ đó nó tiến đến Par Brahm. Chỉ những ai có
Chân Sư mới đi đến đó được. Khi một người đệ tử thâm nhập nội giới, y được thấy
và biết tất cả những gì vừa được mô tả trên kia. Nhiều bác sĩ đến nói với tôi
rằng họ không thấy gì cả bên trong cơ thể dù rằng họ từng giải phẩu nhiều tử
thi.
Ở đây phải nói rằng những miền nội giới không phải là thành phần của cơ thể vật
chất. Chúng ở đằng sau bức màn tâm trí. Một cái cây cũng có linh hồn. Và một con
muỗi ắt cũng thế. Hồn của một con voi cũng tương tự như hồn của một người. Đây
là một đề tài tất thú vị nhưng cũng rất phức tạp. Người ta sẽ hiểu dần dần sau
những lần thuyết giảng, sau sự thiền định liên tục và những pháp hành trì khác
do Đạo Sư chỉ bảo.
Trikuti - cảnh giới thứ hai trên con đường của các Đạo Sư - là miền của Brahm.
Được gọi như vậy vì Trikuti có hình dạng như thế và vì nó là nguồn cội của ba
trạng thái - Satogun, Rajogun, và Tamogun - cũng được biết với danh gọi của ba
vị thần Brahma, Vishnu và Shiva. chúng ta phải đi lên cao hơn vượt khỏi trò chơi
của tâm trí và vật chất. Cuộc hành trình hướng thượng diễn ra trong nội tâm đó
không hạn hẹp trong một tôn giáo nào, trong một người nam hay người nữ nào. Nó
mở rộng cửa cho mọi người. Nó là con đường của Tình Thương và Cống Hiến. Bất kỳ
ai cống hiến bản thân mình tất sẽ chọc thủng bức màn. Cái bức màn thực ra cũng
là sản phẩm của chính tâm trí. Duy chỉ có một việc ở thế gian này, đó là có được
một Chân Sư.
Bất kỳ ai có Chân Sư thì cũng đến được Sach Khand.
Thế nhưng ai có một bậc thầy ở trình độ thấp hơn, sẽ ở lại phía dưới. Kho báu
của Diệu Âm ở bên trong tất cả mọi người.
Ai gặp được Chân Sư và hành trì theo lời dạy của Ngài, sẽ đạt được mục đích.
Những ai không được may mắn như vậy, mãi mãi là đui mù.
Địa hạt của Brahm là địa hạt của tri kiến. Ở miền (cảnh giới) này có một âm
thanh ngọt ngào và du dương. Âm thanh đó là Om - âm thanh của Brahm _ Nó ngọt
ngào như âm thanh phát ra từ chiếc trống Tabla. Đó không phải là từ "Om" nhưng
mà là thứ tiếng vang tiêu biểu cho Om. Âm thanh này phát ra từ giữa những tiếng
ì ầm sâu trầm của sấm sét. Ở đây có hoa sen bốn cánh. Ánh sáng màu đỏ, giống màu
trời lúc bình minh.
"Bên kia đoạn đường hầm Bunk,
Linh hồn vào đến nơi.
Kal dễ sợ đã giăng chiếc bẫy.
Từ đây nhảy đến Trikuti,
Nơi ánh sáng phát ra màu đỏ
Và cất tiếng hát "Onkar".
(Đạo Sư Ji)
"Đấng Onkar tạo ra Brahm.
Đấng Onkar khiến thần Brahm sùng bái
Đấng Onkar tạo nên những chu kỳ thời gian,
Đấng Onkar đã tiết lộ các kinh Vệ Đà."
"Khi con đã trở thành người am hiểu điều bí mật thiêng liêng
Và ngắm nhìn mặt trời lúc giữa đêm,
Khi đó Ta sẽ mở lời với con,
Trừ những cái tâm thuần khiết,
Chẳng ai đến được với Ngài.
Trong cảnh bình minh đó,
Chẳng có khác giữa ngày và đêm".
(Maulana Rum)
"Hoa sen thứ tám nằm trong Trikuti,
Nơi mặt trời của Brahm chiếu sáng".
(Đạo Sư Ji)
Kabir nói rằng khi linh hồn đến cổng thứ mười. Daswan Dwar miền thứ ba, nằm bên
kia Trikuti, đi xuyên ngang qua phía trên đỉnh của Brahm. Chỉ khi ấy thì người
hành đạo mới thực sự là một tu sĩ (Sadhu). Người tu sĩ chân thực là người đã
hành trì và đạt đến thứ bậc này, cảnh giới thứ ba Daswan Dwar, chứ không phải
chỉ là kẻ mặc áo vàng. Từ "tu sĩ" không hàm nghĩa một giáo phái nào cả.
"Khất thực tại mọi nhà,
Con chỉ mập xác thân.
Vì lợi mà con đeo khoen tai người hành khất.
Con bôi lên người đầy tro ở nghĩa địa.
Nhưng vì chẳng có Đạo Sư,
Con không tìm thấy Nhất Thể".
(Trilochan)
"Phụng thờ Đức Chí Tôn không cốt ở áo vàng.
Cũng không cốt mặc áo quần dơ bẩn.
Hỡi Nanak, Người có thể thờ phụng ngay tại nhà mình.
Với cái tâm khai ngộ nhờ Đạo Sư".
(Đạo Sư Amardas)
Phía trên Bradmand là Svet Sungười (Chân Không trắng), ở trên đỉnh của Brahm
nhưng ở dưới Par Brahm. Đó là một miền trung gian. Ở đây có cái ao bất tử có tên
là Amritsar. Đây cũng chính là Trikuti, nơi hợp lưu của ba con sông hoặc ba
luồng tâm linh. Khi đến đây và tắm trong cái ao đó, tâm được giải thoát khỏi mọi
nghiệp quả. Chúng ta phải hiểu rằng tội lỗi không thể được rửa bằng cách tắm
trên những con sông ở thế giới vật chất. Không có bất kỳ thứ nước nào ở thế gian
có thể rửa sạch linh hồn.
Diệu Âm là thứ thuốc rửa duy nhất chân thực và là phương thuốc chữa bệnh cho
con người.
"Tay, chân là thân thể dính bụi dơ
Rửa sạch được bằng nước
Quần áo bám bụi dơ
Giặt sạch được bằng xà bông.
Một tâm trí nhiêm bẩn vì lầm lỗi
Chỉ có thể rửa sạch được bằng Diệu Âm linh thánh".
(Đạo Sư Nanak)
Những cảnh giới bên dưới như vậy vừa được mô tả xong. Kabir Sahib chuyển qua nói
rằng sư hoại diệt xâm nhập đến đỉnh của Brahm và sự hoại diệt lớn có thể đến tận
Sohang hoặc Bhanwar Gupha, cảnh giới thứ tư - Chỉ có Sach Khand mới là bất khả
hủy diệt và là Quê Nhà Chân Thực của chúng ta. Đó là lý do tại sao Đạo Sư Nanak
nói rằng các kinh Vệ Đà bắt nguồn từ Om hoặc Brahm lãnh địa của ba miền dưới
thấp. Trong khi đó người tu sĩ - Sadhu - tiến xa hơn.
Ở trên đỉnh của Brahmand, như đã nói, có ao Amritsar. Ngoài Kabir, Đạo Sư Nanak
cũng có đề cập đến sự kiện này. Sự xây dựng cái ao và ngôi đền vàng của người
Sik tại Amritsar ở Punjah khởi công từ thời của vị Đạo Sư đời thứ tư và hoàn
thành trong thời của vị Đạo Sư đời thứ năm. Với cái tên Amritsar, các Đạo Sư
không muốn nói đến cáo ao ngoại giới đó. Ở cái ao ngoại giới đó hằng ngày có
hàng ngàn con quạ đến tắm, nhưng rồi chẳng có con nào được ghi nhận là đã biến
thành con thiên nga cả. Đạo Sư Nanak nói rằng ao Amritsar chân thật thì ở bên
trong cơ thể . Ở một cấp bậc trên con đường hành trì mà khi tắm trong đó thì
người ta tẩy sạch được mọi nghiệp quả.
"Amritsar chân thật vốn ở bên trong cơ thể,
Và bằng Tình Yêu cùng Tâm Phụng Thờ
Mà tâm trí đến uống ở đó".
(Đạo Sư Amardas)
Tribeni ở ngoại giới là nơi hợp lưu ba con sông thiêng sông Hằng, sông Jumna và
sông Saraswati cũng chỉ là tượng trưng cho Tribeni ở bên trong. Những dòng sông
tâm linh đài tải năng lực thì ở bên trong. Amritsar cũng thế. Các nhà hiền triết
thời xưa đã thấy được những sự vật bên trong và dựa theo đó mà đặt tên các sự
vật bên ngoài là để dạy chúng ta. Chỉ có Tribeni bên trong cũng như Amritsar bên
trong mới có thanh tẩy linh hồn sạch những nghiệp quả.
Sau khi đã tắm ở đây linh hồn trở thành bất tử và không phải luân hồi nữa. Ở đây
nó trở thành một con thiên nga, có nghĩa là linh hồn phát triển và tiến hóa bậc
cao. Lúc này linh hồn có những phẩm chất của thiên nga, khác với quạ. Nó trở
thành bất tử, có nghĩa là nó sẽ không phải trở lại mang một cái thân nào trong
ba thân. Ở dưới miền nấy nó có ba tính chất - Gunas. Bao lâu mà linh hồn còn bị
mắc kẹt trong Vô Minh thì nó chưa có khả năng uống chất mật hoa tâm linh luôn
luôn tràn ở Daswn Dwar. Thế nhưng sau khi đã vươn lên cao và tự giải thoát mình
ra khỏi ba thân - xác, vía và trí - và đã tiến đến Par Brahm, nó được uống chất
mật hoa bất tử. Và thế là linh hồn biến thành con thiên nga.
"Đạo Sư của tôi, Đức Chí Tôn thuần chân,
Đúng là một ao mật hoa
Và tắm trong đó, ngay cả một con quạ
Cũng hóa thành con thiên nga, trắng tinh màu tuyết".
(Đạo Sư Ramdas)
"Những ai gần gũi với Đạo Sư được biến đổi thân tâm
Giống như tinh dầu biến đổi giữa ngàn hoa.
Gần bên những bậc thông thái kẻ ngu khờ biến đổi,
Giống như sắt khi cọ với đá luyện kim
Biến đổi thành vàng rồng
Một con suối hội nhập sông Hằng cũng đổi
Hãy nhìn xem nó kìa: con sông to!
Nếu cạnh cây trầm, một cây con mọc lên
Nó biến đổi thành cây trầm.
Cũng thế, Paltu đã kinh qua cuộc đổi thay
Từ là một con quạ, ông biến thành thiên nga.
Bè bạn quạ thấy thế buồn hối tiếc.
Những ai gần gũi với Đạo Sư được biến đổi thân tâm".
(Pultu Sahib)